Ảnh hưởng trực tiếp nhiệt độ đến chăn nuôi bò sữa

Thứ bảy, 12/05/2018, 09:20 GMT+7
Ảnh hưởng trực tiếp nhiệt độ đến chăn nuôi bò sữa

Ảnh hưởng trực tiếp nhiệt độ đến chăn nuôi bò sữa

Hiện nay, chăn nuôi bò sữa ở nước ta đang rất tiềm năng. Tuy nhiên, sức sản xuất sữa của bò chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của điều kiện nhiệt độ không khí, ẩm độ, gió, bức xạ mặt trời,... Với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm ở nước ta, năng suất sữa không chỉ chịu ảnh hưởng bởi chất lượng thức ăn, giống bò mà còn chịu tác động bởi stress nhiệt...

Stress nhiệt là một trong những nguyên nhân khiến cho năng suất sữa của bò ở nước ta hiện nay chưa cao. Do đó, cần hiểu rõ ảnh hưởng và biện pháp khắc phục stress nhiệt trên bò sữa nhằm cải thiện hiệu quả chăn nuôi.

1. Stress nhiệt là gì?

Stress nhiệt là hiện tượng xảy ra khi ẩm độ và nhiệt độ gây bất lợi cho bò. Bò điều hòa thân nhiệt chủ yếu qua da và hơi thở. Tuy nhiên, với những giống bò sữa cao sản, thường có nguồn gốc từ vùng ôn đới, qua quá trình thích nghi, u yếm không còn phát triển, nên khả năng thải nhiệt qua da càng hạn chế, bò rất dễ bị stress khi nhiệt độ và ẩm độ môi trường cao.

Nhiệt độ không khí từ 10–200C, ẩm độ tương đối từ 55–65%, tốc độ gió trung bình khoảng 5 – 7 km/h và mức độ ánh sáng mặt trời trung bình được xem là điều kiện khí hậu, thời tiết lý tưởng cho sự tăng trưởng và sản xuất của bò. Sản lượng sữa của bò sẽ không bị ảnh hưởng trong phạm vi nhiệt độ không khí từ 5–210C. Nhiệt độ thấp hơn 50C hoặc cao hơn 21 0C sản lượng sữa giảm từ từ. Nhiệt độ cao hơn 270C sản lượng sữa giảm rõ rệt. Trong điều kiện khí hậu, thời tiết của vùng nhiệt đới như Việt Nam, thường thì nhiệt độ không khí vượt mức 25 0C và ẩm độ tương đối vượt mức 80% là tác nhân bất lợi, gây nhiều tác động xấu đến khả năng sản xuất của bò sữa.

2. Làm thế nào để biết bò có bị stress nhiệt hay không?

Chỉ số nhiệt ẩm: (Temperature - Humidity Index, THI) là con số có được do cách tính toán theo phương trình, kết hợp những thông số giữa nhiệt độ và độ ẩm để xây dựng nên một chỉ số, nhờ đó, xác định được khoảng vi khí hậu (trong chuồng nuôi) thuận lợi hoặc bất lợi cho sức khoẻ hoặc năng suất vật nuôi, nhất là trong mùa nóng. Ban đầu, chỉ số này được gọi là “chỉ số không thoải mái”.

THI = td – (0.55 – 0.55 x RH) x (td – 58)

Trong đó: td : Nhiệt độ x 1.8 + 32

RH: Độ ẩm

0BO0

Theo Allan và Dan (2005), trên bò sữa

THI

<72

72-78

79-88

89-98

>98

Mức độ stress

Không

Nhẹ

Nặng

Nghiêm Trọng

Bò bị chết

Qua đó ta thấy, bò sữa ở vùng Đông Nam Bộ luôn bị stress nhiệt từ nhẹ cho tới nặng. Khi bị stress nhiệt, tùy theo mức độ mà bò có biểu hiện sau:

+ Nhiệt độ cơ thể tăng lên (trên 390C)

 + Nhịp thở tăng (>80 lần/phút), bò há miệng để thở, tăng tiết nước bọt

 + Thức ăn ăn vào giảm, uống nhiều nước, nhai lại giảm.

 + Năng suất sữa sụt giảm

+ Giảm hoạt động, bò đứng nhiều hơn nằm

3. Ảnh hưởng của stress nhiệt như thế nào?

Stress nhiệt gây ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả chăn nuôi mà đôi khi lại bị người chăn nuôi thiếu quan tâm nhất là đối với những hộ chăn nuôi nhỏ. Ở NewYork, thiệt hại đối với ngành chăn nuôi do stress nhiệt gây ra là 25 triệu đô la/năm, trong đó tổn thất trên bò sữa là lớn nhất, kế đến là bò thịt, heo và gia cầm (Larry E., 2003).

Khi nhiệt độ môi trường tăng cao, bò có khuynh hướng giảm những hoạt động cơ thể để hạn chế quá trình sản sinh nhiệt: dành nhiều thời gian nghỉ ngơi; ăn ít, uống nhiều nước, giảm thời gian gặm cỏ làm cho sản lượng và chất lượng sữa bị giảm. Ngoài ra, người ta cũng nhận thấy bò có biểu hiện giảm những hoạt động tính dục như không nhảy chồm lên bò khác hoặc ít kêu rống, di chuyển, khả năng sinh sản cũng bị ảnh hưởng.

3.1. Giảm năng suất và chất lượng sữa

Theo Johnson, 1992 cứ tăng 1 đơn vị THI thì năng suất sữa sẽ giảm 0,26 kg/ngày. Theo Đoàn Đức Vũ sau khi gặp phải stress nhiệt, nếu dùng biện pháp kỹ thuật để giảm một đơn vị THI thì cũng chỉ tăng được 0,11kg sữa/ngày. Trong điều kiện bò có sức khỏe bình thường, nếu nhiệt độ trực tràng tăng 1 0C so với bình thường thì bò giảm 1kg sữa.

Theo Johnson H.D (1985), thành phần của sữa (béo, đạm và các chất rắn khác) đều giảm trong điều kiện nhiệt độ cao. Theo Hancock và Payne, sản lượng sữa của bò nuôi ở vùng khí hậu ôn đới cao hơn 44% và sản lượng béo cao hơn 56% so với bò nuôi ở vùng nhiệt đới. Khi nhiệt độ môi trường tăng đến 290C, tỷ lệ chất béo trong sữa bắt đầu giảm, sau đó tỷ lệ béo tăng (do sản lượng sữa giảm nhanh). Nhiệt độ cao còn ảnh hưởng đến độ bền cho sữa của các nhóm bò cao sản nhiệt đới.

3.2. Giảm khả năng sinh sản

Cartmill (2001) chỉ số THI từ 72 trở lên thì tỷ lệ thụ thai giảm. Khi thân nhiệt khoảng 400C do nhiệt độ môi trường lên khoảng 32,20C trong 72 giờ sau khi gieo tinh thì tỷ lệ đậu thai sẽ bằng 0%.

Ảnh hưởng của chỉ số nhiệt ẩm trong 2 ngày trước khi phối giống đến tỷ lệ thụ thai của bò HF.

THI

68

78

Tỷ lệ thụ thai của bò

66%

35%

3.3 Ảnh hưởng của môi trường nhiệt độ cao đối với tập tính của bò sữa

Khi nhiệt độ môi trường tăng cao, bò có khuynh hướng giảm những hoạt động cơ thể để hạn chế quá trình sản sinh nhiệt. Bò dành nhiều thời gian nghỉ ngơi. Bò giảm ăn, uống nhiều nước, giảm thời gian gặm cỏ. Khi được chăn thả, bò có khuynh hướng vào các khu vực có bóng mát, giảm thời gian gặm cỏ vì thế giảm lượng thức ăn ăn vào... Ngoài ra, người ta cũng nhận thấy bò có biểu hiện giảm những hoạt động tính dục như không nhảy chồm lên bò khác hoặc ít kêu rống, di chuyển (một phần còn do tác động của việc giảm tiết hormon và hàm lượng hormon trong máu thấp).

3.4. Ảnh hưởng của môi trường nhiệt độ cao đối với hoạt động sinh lý của bò sữa
Bò là loài động vật máu nóng và có thân nhiệt ổn định, chỉ biến động trong giới hạn nhỏ (từ 38-39,3oC,trung bình là 38,4oC). Khi nhiệt độ môi trường tăng, quá trình thải nhiệt sẽ gia tăng duy trì nhiệt độ bình thường của cơ thể. Thải nhiệt sẽ thông qua 2 biện pháp gia tăng tiết mồ hôi và tăng cường nhịp thở. Lượng máu sẽ được tăng cường đưa đến các vùng ngọai vi (như da) để cung cấp năng lượng cho hoạt động của các tuyến mồ hôi. Thể tích máu cơ thể cần phải tăng lên, nước được điều động từ các phần khác của cơ thể song song với việc tăng cường lượng nước uống vào. Việc gia tăng lượng máu của cơ thể sẽ dẫn đến hiện tượng giảm nồng độ hormon trong máu đến các cơ quan và do máu ưu tiên đến các vùng da nên giảm lượng máu đưa chất dinh dưỡng đến nuôi các bộ phận khác của cơ thể, làm ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát dục của bò (bò chậm lớn và sinh sản kém) và ảnh hưởng đến sức
sản xuất sữa của bò. Ở bò sữa, việc thải tiết mồ hôi là biện pháp chính để thải nhiệt. Quá trình này bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường, ẩm độ của không khí, lượng gió lưu chuyển và diện tích bề mặt cơ thể (da). Khi nhiệt độ môi trường cao, ẩm độ không khí cao, tốc độ gió thấp sẽ làm hạn chế quá trình bốc hơi trên bề mặt da, từ đó làm giảm hiệu quả thoát nhiệt. Giảm ẩm độ, tăng cường sự luân chuyền không khí (tăng tốc độ gió sẽ giúp quá trình thải nhiệt tốt hơn.

Nhóm bò nhiệt đới thường có bộ lông rậm và ngắn hơn so với bò vùng ôn đới. Bộ lông rậm giúp cho bò vùng nhiệt đới chống lại ve mòng và lông ngắn giúp cho việc làm mát cơ thể bò.

3.5 . Ảnh hưởng của môi trường nhiệt độ cao đến khả năng ăn thu nhận và tiêu hoá thức ăn
Khi nhiệt độ môi trường tăng cao, độ ngon miệng giảm, lượng thức ăn ăn vào giảm, sự nhai lại và quá trình lên men của dạ cỏ cũng giảm. Bò sẽ thiếu hụt chất dinh dưỡng cho các quá trình duy trì và sản xuất của bò sữa. Nhìn chung, bò nuôi trong điều kiện khí hậu nhiệt độ cao (nhiệt đới) có lượng thức ăn ăn vào, mức tăng trọng, năng suất sữa và tỷ lệ mỡ sữa thấp hơn so với nhóm bò nuôi ở vùng ôn đới.
Nước là một thành phần quan trọng của cơ thể (chiếm 70% trọng lượng cơ thể) và là một chất dinh dưỡng quan trọng. Bên cạnh vai trò vận chuyển các chất dinh dưỡng (tham gia thành phần của máu, huyết thanh...), dung dịch đệm..., nước còn có vai trò quan trọng trong việc thải nhiệt (tham gia quá trình bài tiết mồ hôi, hô hấp). Khi nhiệt độ môi trường tăng cao, bò sẽ có khuynh hướng uống nhiều nước để bù đắp cho lượng nước cơ thể thải ra để giảm nhiệt (tiết mồ hôi). Tuy nhiên đến một ngưỡng nhiệt độ nhất định (bò Holstein Friesian thì nhiệt độ này là 29,4o C) thì bò có khuynh hướng giảm lượng nước uống vào do bắt đầu có những phản ứng sinh lý nhằm hạn chế các hoạt động của cơ thể. Khi nhiệt độ môi trường cao, ẩm độ cao, bò cũng giảm lượng nước uống vào. Khi bò uống nhiều nước sẽ dẫn đến những hậu quả xấu như nồng độ hormon trong máu giảm (ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý của cơ thể bò trong đó có quá trình sinh sản), giảm lượng thức ăn ăn vào (do độ choán của nước và do bò giành nhiều thời gian cho nghỉ ngơi, uống nước, thở hơn là ăn), thiếu hụt chất dinh dưỡng, mất cân bằng khoáng (lượng lớn các chất khoáng thải ra trong quá trình bài tiết mồ hôi).
3.6 Tăng trưởng
Theo thí nghiệm của Hancock và Payne (1955), nghiên cứu bò sinh đôi từ lúc 7,5 tháng tuổi đến hết chu kỳ cho sữa thứ nhất, thì nhóm bò nuôi ở vùng khí hậu ôn đới có mức tăng trọng cao hơn 9,6%. Trong điều kiện nhiệt đới, nuôi dưỡng kém thì nhóm bò Holstein Friesian thuần bị ảnh hưởng nhiều hơn bò lai và bò nhiệt đới (nhóm bò Bos. Indicus). Người ta nhận thấy khi bò cái đã mang thai nhập từ các nước ôn đới vào khu vực nhiệt đới, thì trọng lượng bê sinh ra thường thấp hơn 17-20% so với bê sinh ra tại chính quốc (do stress vận chuyển, thay đổi thức ăn và do tác động của nhiệt độ cao).

 

 

 

 4. Biện pháp khắc phục

4.1. Chọn giống bò chịu stress nhiệt

Nhiệt độ thích hợp tối đa và tối thiểu cho sức sản xuất sữa ở mỗi giống bò có khác nhau. Sản lượng sữa của bò Holstein Friesian (HF) giảm đi nhanh chóng khi nhiệt độ môi trường cao hơn 210C, bò Brown Swiss và bò Jersey là khoảng 26-270C, còn bò Brahman là 320C. Nhiệt độ thích hợp tối thiểu ở bò Jersey khoảng 20C, còn ở bò Holstein Friesian không bị ảnh hưởng, thậm chí ở -130C. Các giống bò lai sẽ có khả năng chịu stress nhiệt tốt hơn giống bò HF thuần, giống bò HF của Úc chịu nhiệt tốt hơn giống bò HF có nguồn gốc từ Châu Âu.

 Do đó, tiến hành lai tạo để tạo ra giống bò có năng suất và khả năng chịu nhiệt phù hợp với điều kiện khí hậu của nước ta. Đây là mức độ thích nghi với stress nhiệt giảm dần F1> F2>F3>F4>...> HF. Tùy theo điều kiện chăm sóc và kỹ thuật mà lựa chọn giống bò cho phù hợp.  Đối với những hộ gia đình chưa có kỹ thuật cao hoặc các biện pháp chống nắng hiệu quả chỉ nên nuôi bò F1, F2.

4.2. Hạn chế tối đa ánh nắng mặt trời và bức xạ nhiệt

Mái chuồng làm bằng vật liệu ít hấp thu nhiệt, có thể trồng cây hoặc đào mương nước xung quanh chuồng. Phun nước lên mái chuồng cũng là một trong những biện pháp làm mát hiệu quả, tuy nhiên, cần lựa chọn vật liệu làm mái chuồng phù hợp.

4.3. Tạo độ thông thoáng tự nhiên cho chuồng nuôi bò

Chuồng nuôi nên làm mái càng cao càng tốt. Chuồng 2 mái, mái hở khí nóng có thể bốc lên, sẽ giúp tăng độ thông thoáng cho chuồng nuôi hơn, không nên xây tường bịt kín xung quanh. Diện tích tối thiểu 6-7m2/con

medium_akk1334829080

Bên cạnh đó sử dụng quạt, cùng giúp tăng độ thông thoáng của chuồng nuôi.

quat-cho-bo

4.4. Làm mát trực tiếp trên cơ thể bò (phun nước + quạt)

Phun sương trực tiếp lên lưng bò: 10-20 giây, sau đó bật quạt quay trong 4-5 phút. Khi da bò khô lại tiếp tục bật vòi phun, quạt bằng rơle tự động.

may-phun-suong-lam-mat-trang-trai-bo-sua-

4.5. Thức ăn và nước uống

Nước uống: Khi nóng bò cần uống rất nhiều nước. Cần cung cấp nước cho bò uống tự do, nước mát, sạch, che mát máng nước…

Thức ăn: Khi nhiệt độ môi trường tăng cao, độ ngon miệng giảm, lượng thức ăn ăn vào giảm, sự nhai lại và quá trình lên men của dạ cỏ cũng giảm; bò sẽ thiếu hụt chất dinh dưỡng cho các quá trình duy trì và sản xuất của bò sữa. Do đó, thức ăn cho bò cần có tính ngon miệng cao, đồng thời cho ăn vào thời điểm thích hợp (sáng sớm, chiều tối...)

 
 

TAG: